Adenosine – Khắc tinh của nhịp nhanh kịch phát trên thất (PSVT)

Adenosine có bản chất là một purine nucleoside, cấu tạo gồm Adenine gắn với đường ribose. Các dẫn xuất của Adenosine được tìm thấy rất nhiều trong tự nhiên và đóng một vai trò quan trọng trong các quá trình sinh hóa, ví dụ như adenosine triphosphate (ATP) và adenosine diphosphate (ADP) – chất truyền năng lượng, hay AMP vòng – chất truyền tín hiệu.

Bản thân Adenosine là một chất điều hòa thần kinh, được tin rằng có vai trò trong việc gây ngủ và duy trì giấc ngủ, ngoài ra còn giúp điều hòa dòng máu tới các tạng thông qua tác động giãn mạch.

Chỉ định của Adenosine

Chỉ định cơ bản và là đầu tay của Adenosine chính là nhịp nhanh do vòng vào lại, đặc biệt là vòng vào lại có liên quan đến nút nhĩ thất. Do đó, adenosine sẽ là thuốc thuộc hàng first choice cho điều trị cấp cứu nhịp nhanh kịch phát trên thất (bao gồm AVNRT, AVRT và AT) với > 90% tỉ lệ chuyển nhịp thành công. Các khuyến cáo gần đây đều đưa Adenosine vào Class IA và là bước đầu tiên trong điều trị cấp thời SVT đều.

Ngoài ra, Adenosine còn được sử dụng như một nghiệm pháp Valsalva “hóa học” để chẩn đoán một số rối loạn nhịp nhanh khác, đặc biệt là cuồng nhĩ dẫn truyền 2:1

Hình ảnh một cơn nhịp nhanh tần số 150bpm, sau khi dùng Adenosine thì để lộ ra các sóng hình răng cưa của cuồng nhĩ. Suy ra cơn nhịp nhanh là cuồng nhĩ bị block 2:1

Cơ chế tác dụng:

Adenosine ức chế dẫn truyền qua nút nhĩ thất nên có thể cắt đứt cơn nhịp nhanh có vòng vào lại đi qua nút nhĩ thất.  Nó cũng ức chế nút xoang gây nên tình trạng giảm chức năng nút xoang.

Cách dùng:

Adenosine chỉ được dùng bằng đường tĩnh mạch. Nên nhớ rằng Adenosine là thuốc có thời gian bán hủy rất ngắn (<10s). Do vậy khi dùng phải bolus thật nhanh trong vòng 1-3s, tốt nhất là tiêm vào các tĩnh mạch gần tim. Nếu tiêm ở các tĩnh mạch ngoại vi, cánh tay bên tiêm nên được nâng cao ngay.

Liều khởi đầu bằng 6mg bolus TM.

Sau 1-2 phút, nếu không đáp ứng thì bolus tiếp một liều 12mg (như vậy tổng liều là 6+12=18mg).

Không khuyến cáo cho thêm liều 12mg thứ hai nếu bệnh nhân không đáp ứng.

Cần ghi lại một chuyển đạo kéo dài trong quá trình dùng thuốc, điều này có thể hữu ích để chẩn đoán phân biệt với các rối loạn nhịp nhanh khác không phải là PSVT.

Trong AVNRT, khoảng 60% bệnh nhân sẽ đáp ứng với liều ban đầu trong vòng 1 phút và 92% sẽ đáp ứng sau liều 12mg.

Chống chỉ định:

Mặc dù là một thuốc dễ dung nạp, song Adenosine vẫn có một số tác dụng phụ phổ biến:

  • Đau ngực (do gây giãn mạch ở nơi khác gây thiếu máu vành)
  • Giãn mạch da, vị kim loại.
  • Ho (do co thắt phế quản). Adenosine có thể khởi phát cơn hen phế quản ở những bệnh nhân có tăng đáp ứng đường thở nặng. Một số bệnh nhân hen phế quản có thể đang sử dụng Theophylline (là thuốc đối vận với Adenosine) do vậy Adenosine có thể kém hiệu quả khi cắt cơn SVT ở những bệnh nhân này.
  • Nhịp chậm thoáng qua (thậm chí có thể gây ra một khoảng vô tâm thu ngắn).

Tuy nhiên, “tin tốt” là các tác dụng phụ này hầu hết đều mất đi trong vòng 1 phút. Do vậy, các nhà lâm sàng có kinh nghiệm sẽ nhìn lơ đi chỗ khác trong vòng 20-30 giây sau khi tiêm Adenosine để tránh bị phân tâm bởi các tác dụng phụ thoáng qua này.

Chú ý: Adenosine làm ngắn thời kỳ trơ của mô nhĩ nên có thể làm khởi phát rung nhĩ ở khoảng 1-10% số bệnh nhân. Điều này có thể trở nên nguy hiểm với những bệnh nhân tồn tại đường dẫn truyền phụ (WPW) và hệ quả là tạo nên cơn rung nhĩ đáp ứng thất rất nhanh gây rối loạn huyết động. Do vậy, cần cảnh giác khi sử dụng Adenosine để điều trị AVRT và tốt nhất là chuẩn bị sẵn máy khử rung.

 

By #Blackcell


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  • Romulo F. Baltazar. Basic and Bedside Electrocardiogram. 2006; 19: 187-210
  • Ken Grauer. ACLS 2013 5th edition. 2013; 08.2: 221-225
  • Bar FW, Brugada P, Dassen WRM, et al. Differential diagnosis of tachycardia with narrow QRS complex (shorter than 0.12 second). Am J Cardiol. 1984;54:555–560.
  • Chauhan VS, Krahn AD, Klein GJ, et al. Supraventricular tachycardia. Med Clin N Am. 2001;85:193-223.

 

Trả lời